Điểm chính
- Khoảng 8,8 triệu hồ sơ định danh cá nhân tại Đan Mạch đã bị truy cập trái phép do tài khoản quản trị sử dụng mật khẩu '123456'.
- Kẻ tấn công đã lạm dụng quyền truy cập hợp pháp của một công ty đối tác để trích xuất dữ liệu mà không cần khai thác lỗ hổng phần mềm.
- Hành vi xâm nhập kéo dài hơn 21 ngày cho thấy sự thiếu hụt nghiêm trọng trong cơ chế giám sát và phân tích nhật ký hệ thống.
Một vụ rò rỉ dữ liệu quy mô lớn tại Đan Mạch đã làm dấy lên hồi chuông cảnh báo về an ninh mạng, khi có khoảng 8,8 triệu hồ sơ định danh cá nhân bị truy cập trái phép do sử dụng mật khẩu quản trị yếu.
Nguyên nhân và cơ chế tấn công
Sự cố rò rỉ bắt nguồn từ việc tài khoản quản trị của công ty công nghệ thông tin Pays ApS sử dụng mật khẩu '123456'. Kẻ tấn công đã không tấn công trực tiếp vào hạ tầng cốt lõi mà lợi dụng thông tin xác thực bị lộ của một cựu nhân viên để xâm nhập vào hệ thống cơ sở dữ liệu đăng ký nhân thân quốc gia (CPR).
Sau khi chiếm quyền điều khiển, đối tượng đã tạo ra các chương trình tùy chỉnh để tự động hóa quá trình trích xuất dữ liệu. Cuộc xâm nhập này kéo dài trong suốt 21 ngày 17 giờ mà không bị phát hiện, ảnh hưởng đến gần 8,75 triệu hồ sơ bao gồm cả người đang sống và người đã khuất.
Bài học về giám sát và quản lý truy cập
Việc kẻ tấn công duy trì quyền truy cập trong thời gian dài phơi bày sự thiếu hụt nghiêm trọng trong các cơ chế giám sát hành vi và phân tích nhật ký tại đơn vị bị xâm nhập. Các hệ thống quản lý sự kiện và thông tin bảo mật lẽ ra phải phát hiện kịp thời các lưu lượng truy vấn bất thường hoặc lệnh xuất dữ liệu hàng loạt.
Khuyến nghị phòng thủ
Để ngăn chặn các sự cố tương tự, các tổ chức cần áp dụng mô hình bảo mật Zero Trust, thắt chặt việc quản lý quyền hạn của bên thứ ba bằng các biện pháp cụ thể:
Bắt buộc triển khai xác thực đa yếu tố cho mọi tài khoản truy cập vào dữ liệu nhạy cảm. Thiết lập quy trình vô hiệu hóa tài khoản ngay khi nhân sự thay đổi vị trí hoặc nghỉ việc. Tăng cường giám sát hành vi thông qua các quy tắc phát hiện lưu lượng truy vấn bất thường và thực hiện đánh giá định kỳ đối với đặc quyền của đối tác.



